Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp so sánh trong các câu thơ:
người như ngựa, tung hô rồi kéo thời gian phi nhanh
người như sên, lặng lẽ nếm từng giọt thời gian mặt ngọt
Câu 1 (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về việc làm thế nào để người trẻ có thể sử dụng thời gian của mình một cách hiệu quả.
Câu 2 (5,0 điểm)
Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, nhà văn Tô Hoài viết:
Trên đâu núi, các mương ngó, nương lúa gật xong, ngó lúa đã xếp yên đầy các nhà khó, ta thành lệ cứ ăn Tết khi gật hải vừa xong, không kể ngày, tháng nào. Ấn Tết nhục thế cho kịp mưa xuân xuống thì đi vỡ nương mới. Hồng Ngài nằm ấy ăn Tết giữa lúc gió thổi vào có giành vàng ứng, gió và rét rất dữ dội.
Nhưng trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ [...]. Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà. Ngoài đều núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Mị nghe tiếng sáo vọng lạc thiết tha bội hối. Mị ngồi khám thăm bài hát của người đang thổi.
Mày có con trai con gái rồi
Mày đi làm nương
Ta không có con trai con gái
Ta đi tìm người yêu.
Tiếng chó súa xa xa. Những đêm tình mùa xuân đã tới.
Ở mỗi đầu làng đều có một mỏm đất phẳng làm cái sân chơi chung ngày Tết. Trai gái, trẻ con ra sân ấy tụ tập đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi kèn và nhảy. Cả nhà thống lí Pá Tra vừa ăn xong bữa cơm Tết cúng ma. Xung quanh, chiêng đánh ầm ăn, người ốp đồng văn còn nhảy lên xuống, run bần bật. Vừa hết bữa cơm lại tiếp ngay bữa rượu bên bếp lửa.
Ngày Tết, Mị cũng uống rượu. Mị đến lấy hũ rượu, uống ức từng bột. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đầy nhìn người nhảy đồng, người hắt, nhưng lòng Mị thì đang sông về ngày trước. Tại Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đâu làng. Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị.
Rượu đã tạm lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả. Mị không biết, Mị vẫn (ngồi trọng một mình giữa nhà). Mãi sau Mị mới đứng dậy, nhưng Mị không bước ra đường chơi, mà từ từ bước vào buồng. Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết. Mị cũng chẳng buồn đi. Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cái cửa (số lỗ vuông mờ mờ trăng trăng). Đã từ này, Mị thấy phơi, phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi.
(Trích Vợ chồng A Phủ- Tô Hoài, Ngữ văn 12, Tập hai, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2008)
Anh/chị hãy phân tích đoạn trích trên; từ đó, nhận xét ngắn gọn về chất thơ trọng tác phẩm.
HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT
THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN TUYENSINH247.COM
I. DỌC HIỂU
Câu 2
Phương pháp: Đọc, tìm ý.
Cách giải:
Theo bài thơ, thời gian là: thời gian chính là ngân hàng mở để chúng ta/ ký gửi tất cả những gì đang có mà không cần bất cứ sự thể chấp nào; và: thời gian cũng chính là kẻ cấp có quyền lực nhất/ bởi chính nó cũng âm thầm lấy đi tất cả những gì chúng ta đang có.
Câu 3
Phương pháp: Căn cứ bài so sánh, phân tích.
Cách giải:
- Hình ảnh so sánh: “người” vì với “ngựa”, “người” vì với “sên”,
- Tác dụng:
+ Sử dụng hình ảnh so sánh giúp người đọc dễ hiểu, dễ hình dung, câu thơ sinh động, hấp dẫn hơn.
+ Sử dụng hai hình ảnh so sánh trong thể đối lập tác giả nhằm nhấn mạnh mỗi người có cách sử dụng thời gian khác nhau: người sống nhanh thì tận dụng mọi khoảnh khắc để làm việc; người sống chậm lại chậm rãi để tận hưởng mọi thú vui, vẻ đẹp của cuộc sống.
+ Qua đó tác giả thể hiện quan niệm về sống nhanh, sống chậm.
Câu 4
Phương pháp: Phân tích, lý giải, tổng hợp.
Cách giải:
Học sinh đưa ra quan điểm cá nhân và có lí giải phù hợp.
Gợi ý:
- Đồng tình với quan điểm: Người giết thời gian bằng việc làm vô ích thì thời gian chết: những ai tiêu phí thời gian vào những việc làm vô ích thì thời gian đối với họ không có ý nghĩa, giá trị gì. Còn đối với những người “giết chết thời gian bằng việc làm có ích thì thời gian sống: những người tiêu phí thời gian vào việc làm có ích thì thời gian rất có giá trị và ý nghĩa.
II. LÀM VĂN
Câu 1:
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích để để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,...) để tạo lập một văn bản nghị luận xã hội.
## Cách giải:
### Yêu cầu hình thức:
- Viết đúng một đoạn văn nghị luận xã hội theo cấu trúc.
- Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
### Yêu cầu nội dung:
* Nêu vấn đề: Làm thế nào để người trẻ có thể sử dụng thời gian của mình một cách hiệu quả
* Bàn luận:
Học sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách khác nhau miễn là hợp lí, khoa học, thuyết phục. Có thể theo hướng sau:
- Sử dụng thời gian hiệu quả là cách sử dụng, phân bố thời gian vào công việc, học tập, vui chơi giải trí sao cho phù hợp và đạt được hiệu quả cao nhất.
- Sử dụng thời gian hiệu quả sẽ giúp mọi công việc được hoàn thành đúng thời hạn, hoàn thành tốt, từ đó giúp cần bằng cuộc sống.
- Làm thế nào để người trẻ sử dụng thời gian hiệu quả?
+ Lên kế hoạch làm việc mỗi ngày.
+ Kỉ luật đối với tất cả các kế hoạch đã đề ra.
+ Không bỏ dở, luôn kiên trì đến cùng với tất cả các đề hoạch đã định.
+ ...
HS lấy dẫn chứng phù hợp.
- Phê phán những người lãng phí thời gian, dùng thời gian vào những việc vô bổ.
- Tổng kết vấn đề.
### Câu 2:
#### Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích để để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tich, tổng hợp, bàn luận,...) để tạo lập một vãn bản nghị luận vãn học.
### Cách giải:
#### Yêu cầu hình thức:
- Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm nghị luận vãn học để tạo lập văn bản.
- Bài viết phải có bố cục đầy đợ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễm đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.